Có một cảnh không hiếm gặp ở những bữa tiệc nhỏ của người Việt nơi xứ người. Mấy gia đình rủ nhau tụ lại cho đỡ nhớ tiếng mẹ đẻ, trên bàn có nồi bún bò ai đó nấu, mùi sả mùi mắm ruốc bốc lên thơm nức cả một căn bếp lạ. Ai cũng húp xì xụp, ai cũng khen ngon. Vậy mà ngay giữa cái mùi quê hương đặc quánh ấy, thể nào cũng có một người cứ nói mãi về chuyện ở “cái xứ đó”. Xứ đó bẩn. Xứ đó người ta gian. Xứ đó chẳng ra gì, đi được là phúc. Người ấy nói say sưa, như thể mỗi lần dìm nó xuống thì mình lại được nhấc lên cao thêm một bậc.
Trong những bữa như thế, đáng để ý nhất không phải là người đang nói, mà là người ngồi im. Thường là một bà cụ ở cuối bàn. Bà không cãi. Bà chỉ cúi xuống bát bún và ăn chậm lại. Có lẽ trong cái bát ấy có cả con đường làng bà bỏ lại, có cả nấm mộ cha mẹ bà không kịp về thắp một nén hương, có cả một thời con gái mà giờ chỉ còn sót lại trong mùi mắm ruốc. Người đàn ông kia đang chê một đất nước. Còn bà cụ thì đang nhớ một quê nhà. Hai thứ ấy, thoạt nhìn thì giống, mà thật ra cách nhau xa lắm.
Bài viết này không nhằm trách ai. Nó chỉ muốn ngồi xuống nói khẽ với những người đã đi xa, đang đi xa, hoặc rồi đây sẽ đi xa, một điều rất nhỏ: dù có chuyện gì đi nữa, xin mình đừng nói xấu quê mình. Không phải vì quê mình hoàn hảo. Mà vì có những thứ, một khi đã buông lời khinh rẻ chúng, là mình tự tay làm rách một mảnh trong chính lòng mình mà chẳng hay.
* * *
Trước hết phải nói cho rạch ròi, kẻo hiểu lầm. Chê không phải là tội. Nhìn ra cái xấu của quê hương lại càng không phải là tội.
Người mình có câu rất sâu: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.” Nhưng để ý mà xem, câu ấy nói “chê”, chứ đâu nói “đừng nhìn thấy sự thật”. Một đứa con thấy nhà dột mà bảo “mẹ ơi, mái nhà mình dột rồi, để con trèo lên lợp lại” – đó nào phải chê. Đó là thương. Nó thấy cái xấu của nhà mình rõ hơn ai hết, nhưng nó thấy để mà vá lại, chứ không phải để đứng giữa chợ rêu rao cho thiên hạ biết nhà mình nghèo, nhà mình bẩn.
Cho nên đừng bao giờ nhầm rằng yêu quê là phải khen quê. Người thấy đất nước còn tham nhũng mà đau, thấy còn bất công mà xót, thấy người mình còn chen lấn xô đẩy, còn xả rác, còn gian dối trong làm ăn mà buồn rười rượi – những người ấy nhiều khi yêu quê hơn cả những kẻ suốt ngày phất cờ ngoài miệng. Bởi chỉ có thương thật thì người ta mới chịu nhìn vào chỗ đau. Kẻ dửng dưng mới quay mặt đi mà khen lấy lệ cho xong.
Vậy ranh giới nằm ở đâu? Nó không nằm giữa khen và chê. Nó nằm giữa thương và khinh. Giữa muốn cho nó tốt lên và muốn chối bỏ nó cho rảnh nợ. Người góp ý vì thương thì trong lời nói bao giờ cũng có một cái gì xót xa, ngập ngừng, như sờ vào vết thương của người thân. Còn kẻ nói xấu vì khinh thì trong lời nói có cái hả hê, cái khoái trá, như vừa trút được một gánh nặng nhục nhã. Ngồi nghe một lúc là phân biệt được ngay, dù hai người có thể nói y hệt một câu.
Đứa con thương mẹ vẫn có thể giận mẹ, vẫn có thể kể với bạn rằng “nhà tao hồi xưa khổ lắm, mẹ tao cực lắm”. Nhưng nó sẽ không bao giờ đứng trước mặt người dưng mà bĩu môi: “Cái bà già nhà quê đó hả? Tôi xấu hổ vì bả lắm.” Cùng một sự thật về cái nghèo, nhưng một bên là tiếng lòng của người trong cuộc, một bên là sự ruồng rẫy của kẻ muốn chối từ gốc gác. Lời thì na ná, mà cái tâm phía sau thì một trời một vực.
* * *
Cũng không nên vội phán xét những người hay nói xấu quê. Bởi nếu chịu khó ngồi nghe lâu thêm một chút, sẽ thấy đằng sau mỗi câu cay nghiệt ấy thường là một câu chuyện chẳng vui gì.
Có những người ra đi mang theo một vết thương thật. Họ rời quê không phải vì ham phiêu lưu, mà vì ở lại thì không sống nổi – vì chiến tranh, vì đói, vì một bất công nào đó đã đè nát cả một quãng đời họ, đến mức họ phải dứt áo mà đi, vừa đi vừa ngoái lại. Với những người ấy, chẳng ai có đủ tư cách để lên lớp. Khi một người đã mất quá nhiều ở một nơi, thì cái giận của họ là có lý của nó, và cái giận ấy đáng được thương hơn là bị chê trách. Chỉ dám mong, rất khẽ, rằng đến một ngày nào đó họ sẽ tách bạch được: cái đã làm họ tổn thương là một thời thế, một con người, một guồng máy nào đó – chứ không phải là cả mảnh đất, cả tiếng nói, cả dòng sông đã từng ôm họ vào lòng những ngày họ còn bé dại và chưa biết khổ là gì.
Lại có những người nói xấu quê chỉ vì khao khát được người ta chấp nhận. Sang xứ lạ, đứng giữa những gương mặt khác màu da, người ta sợ bị xem thường, sợ bị gộp chung vào cái đám “dân nhập cư” lam lũ. Thế là họ vội vàng tự tách mình ra: “Tôi không giống mấy người Việt đó đâu nhé. Tôi khác.” Họ đem quê ra chê như một tấm vé để xin được ngồi cùng bàn với chủ nhà. Cái đó tội nghiệp hơn là đáng ghét. Bởi rốt cuộc, chẳng có người tử tế nào ở xứ người lại trọng mình hơn chỉ vì mình biết chửi nơi mình sinh ra. Người ta chỉ lặng lẽ ghi nhận một điều, và là điều chẳng hay ho gì: kẻ này sẵn sàng quay lưng với cả nguồn cội của nó, thì còn gì trên đời mà nó không bỏ được.
Lại có một kiểu khác, hiền hơn, mà nghĩ kỹ lại buồn hơn. Đó là những người đã đi hai ba chục năm, và trong đầu họ, quê hương vẫn đứng yên ở cái ngày họ bước lên máy bay. Họ chê cái nghèo của thời tem phiếu, chê cảnh xếp hàng từ nửa đêm mua gạo, chê những thứ mà ngay cả người ở nhà bây giờ cũng chỉ còn nghe ông bà kể lại. Họ đâu biết rằng cái xứ họ đang mắng đã khác đi nhiều lắm rồi – có đường cao tốc, có những đứa trẻ học lập trình từ tiểu học, có biết bao người trẻ giỏi giang và tử tế mà nếu ngồi nói chuyện cùng họ sẽ phải ngỡ ngàng. Họ vẫn yêu, nhưng họ yêu một tấm ảnh đã cũ. Và họ chê một đất nước thật ra không còn tồn tại nữa. Nỗi đau của họ là có thật, mà đối tượng của nỗi đau ấy thì đã tan vào dĩ vãng.
Và có lẽ kiểu thường gặp nhất, là người chê quê để khỏi phải nhớ quê. Điều này nghe nghịch lý mà thật đến nhói lòng. Khi người ta không về được – vì xa quá, nghèo quá, giận quá, vì giấy tờ, vì tự ái, vì một lời thề lúc ra đi – thì nỗi nhớ trở thành một thứ đau không thuốc nào chữa nổi. Cách dễ nhất để bớt đau là tự dối mình rằng cái nơi ấy có gì đâu mà nhớ, có gì đâu mà tiếc. “Tôi chẳng bao giờ thèm về cái xứ đó.” Câu nói cứng cỏi ấy, nếu lắng tai một chút, sẽ nghe ra phía sau nó là một tiếng thở dài rất nhỏ: “Nhớ lắm, mà về không được.” Người ta đập vỡ cái mình yêu, chỉ để khỏi phải đứng nhìn nó mà thèm thuồng, mà tủi thân. Sự khinh bỉ, lắm khi, chỉ là chiếc mặt nạ vụng về của một nỗi nhớ quá lớn.
* * *
Nhưng dù vì lý do gì đi nữa, có một sự thật cần nói cho thẳng, vì nó chính là chỗ đau nhất: khi đứng ở nơi xa mà nói xấu quê, quê hương không hề nghe thấy mình.
Đất nước không buồn vì một lời. Dòng sông xanh vẫn cứ chảy, cánh đồng vẫn cứ xanh, người ở nhà vẫn dậy từ bốn giờ sáng gánh hàng ra chợ, vẫn cười, vẫn cãi nhau, vẫn yêu thương, vẫn sống, chẳng một ai hay rằng ở tận một góc trời nào đó có người đang mắng họ. Lời nói xấu bay vào hư không, không sao chạm tới được cái nơi mà mình tưởng mình đang trừng phạt. Mình giơ tay lên đánh, nhưng cú đánh ấy rơi vào khoảng không.
Vậy thì ai nghe? Con mình nghe.
Đứa trẻ sinh ra nơi xứ người, lớn lên giữa hai dòng máu, ngày ngày nó nhìn vào cha mẹ để biết mình là ai, để biết cái nửa kia trong người mình là quý hay là hèn. Khi nó nghe cha nó nhếch mép bảo quê hương là nơi nghèo nàn lạc hậu, nghe mẹ nó kể về nguồn cội bằng cái giọng khinh khi, thì nó học rất sớm và rất sâu một bài học cay đắng: cái nửa Việt Nam trong con người mình là cái nửa đáng phải giấu đi. Rồi nó giấu thật. Nó ngại nói tiếng Việt trước mặt bạn bè. Nó không muốn mang hộp cơm mẹ nấu tới trường vì sợ mùi mắm. Nó né tránh khi có người hỏi gốc gác. Nó lớn lên với một vết nứt thầm lặng chạy dọc trong lòng, vết nứt của một đứa trẻ bị chính cha mẹ dạy cho phải hổ thẹn về cái rễ đã nuôi nó thành người.
Mình cứ tưởng mình chỉ đang chê một đất nước ở xa. Thật ra mình đang lấy dao cắt rễ của con mình. Mà cây nào bị cắt mất rễ thì cũng héo dần, dù lá có xanh tới đâu, dù trồng trong chậu sang trọng tới đâu. Đứa con không gốc lớn lên có thể giàu, có thể giỏi, nhưng trong nó luôn thiếu một chỗ tựa, một cái nền để đứng cho vững giữa đời. Và cái nền ấy, đáng lẽ chính cha mẹ là người trao cho nó, lại bị cha mẹ tự tay đập bỏ.
Còn một điều cay đắng hơn nữa, mà ít ai chịu nghĩ tới: cái mà mình khinh, nó cũng chính là mình. Cái giọng quê mình chê là quê mùa kia, đó là giọng của bà ngoại mình, của người đã ru mình ngủ. Cái món ăn mình bảo là tầm thường, là nặng mùi, đó là thứ đã nuôi mình lớn lên thành con người đang đứng đây mà chê bai. Cái dân tộc mình mạnh miệng gọi là gian, là dốt, là chẳng ra gì – mình cũng là một người trong cái dân tộc ấy, máu mình cùng một màu với họ. Hạt gạo làm nên xương thịt mình mọc lên từ chính thứ bùn đất ấy. Cho nên mỗi lần nhổ một bãi nước bọt về phía quê hương, bao giờ cũng có một phần rơi trúng ngay khuôn mặt của chính mình, chỉ là mình mải khinh người nên không kịp thấy.
* * *
Người mình có câu “vạch áo cho người xem lưng”. Câu này hay bị hiểu lệch đi, thành ra ý bảo phải giấu giếm, phải che đậy cái xấu. Hiểu vậy là oan cho người xưa. Cái xấu của quê hương, người trong nhà phải biết để mà sửa, đời nào lại đi giấu nhau. Ý thật của câu ấy nằm ở một chỗ khác, tinh tế hơn: nó hỏi rằng mình đang cởi áo cho ai xem và để làm gì.
Một người con ngồi với cha mẹ trong gian bếp, nói “nhà mình còn cái này chưa ổn, con nghĩ nên sửa lại” – đó là thương nhà, đó là người con có trách nhiệm. Cũng người con ấy, ra đầu ngõ gặp người lạ, hạ giọng thì thầm: “Ông biết không, cái nhà tôi á, bê bối lắm, thối nát lắm, tôi nói thật đấy” – để được người lạ gật gù khinh khi cả gia đình mình, để được vỗ vai khen là “biết nhìn nhận” – thì đó lại là một chuyện hoàn toàn khác. Cùng một sự thật, nhưng kể cho ai nghe, và kể bằng cái tâm gì, thì nó hóa ra hai việc trái ngược: một việc dựng nhà lên, một việc kéo nhà xuống.
Khi ngồi với người ngoại quốc rồi buông một câu “người Việt tụi tôi ai cũng gian, cũng lười, cũng tham, cũng tiểu nông” – thử hỏi câu ấy sửa được điều gì? Không sửa được gì cả. Nó chỉ vừa xác nhận một định kiến vốn đã nằm sẵn trong đầu người nghe, và tệ hơn, nó còn ký tên mình vào dưới cái định kiến đó. Mình vừa nhân danh hơn một trăm triệu con người mà mình chưa từng hỏi qua ý kiến một ai, để nói với một người dưng rằng tất cả bọn họ đều xấu xa. Đó đâu còn là phê bình. Đó là vu cho cả một dân tộc, rồi đứng hẳn về phía những kẻ vốn đã sẵn lòng coi thường dân tộc ấy.
Phê bình để sửa thì quay mặt vào trong, nói với người nhà, nói bằng cái xót, và nói xong thì xắn tay cùng làm. Nói xấu để chối bỏ thì quay mặt ra ngoài, nói với người dưng, nói bằng cái hả hê, và nói xong thì phủi tay đi cho nhẹ nợ. Ranh giới giữa hai bên mong manh trong từng câu chữ, nhưng tấm lòng phía sau thì sáng tỏ như ngày với đêm. Quê hương không cần những đứa con chỉ biết khen. Nhưng quê hương cũng chẳng đáng phải nhận những đứa con đem nó ra làm bàn đạp để leo lên cho bằng người.
* * *
Điều an ủi là, phần lớn những người hay nói xấu quê, sâu thẳm trong lòng, lại chính là những người nhớ quê nhất. Cái việc gân cổ lên chê bai ấy, nhiều khi chỉ là một lớp vỏ cứng đanh bọc lấy một chỗ mềm yếu đến mức không dám chạm vào.
Ở những khu phố Việt bên kia đại dương, sáng nào cũng có những ông cụ ngồi cà phê mắng quê hương không tiếc lời. Vậy mà chỉ cần đâu đó vọng lại một câu vọng cổ, một điệu ru hời, là mắt ông đỏ hoe, ông vội quay mặt đi giả vờ như có hạt bụi vừa bay vào. Có người đàn bà tuyên bố chắc nịch rằng cả đời này không thèm đặt chân về, vậy mà cứ đến rằm tháng bảy lại lụi cụi nấu cho được mâm cơm cúng đúng kiểu ở nhà, bày ra rồi ngồi khóc một mình bên mâm cơm nguội. Cái miệng người ta nói một đằng. Cái bụng người ta thương một nẻo. Và bao giờ cũng vậy, cái bụng mới là thật, còn cái miệng chỉ là chỗ để người ta tự vệ.
Bởi vì quê hương, nói cho cùng, đâu phải là một chính phủ, một chính sách, hay cái mẩu tin xấu vừa đọc được sáng nay làm mình bực bội. Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn – cái nhau, cái rốn, theo đúng nghĩa đen, được vùi xuống mảnh đất ấy, hòa vào đất ấy, không cách nào lấy lại được nữa. Quê hương là thứ tiếng đầu tiên mình cất lên khi chào đời. Là lời ru đưa mình vào giấc ngủ trước cả khi mình biết nhớ là gì. Là mùi rơm rạ sau mùa gặt, mùi mưa gõ trên mái tôn, mùi nồi cá kho quẹt trong gian bếp ám khói của ngoại. Những thứ ấy chưa từng có lỗi gì với mình. Những thứ ấy chỉ một mực thương mình, và sẽ thương mình cho đến hết đời, dù mình có quay lưng lại với chúng.
Một bát phở giữa thành phố xa lạ có thể khiến một người đàn ông từng trải, tưởng đã chai sạn, bỗng cay xè khóe mắt – không phải vì nó ngon, mà vì trong làn khói nóng bốc lên ấy có cả một quê nhà mà ông tưởng mình đã quên từ lâu. Cái sức mạnh kỳ lạ ấy ở đâu mà ra? Nó ra từ chính cái nơi mà lúc tỉnh táo, lúc đông người, ông mạnh miệng chê bai. Hóa ra mình có thể giận quê, có thể bỏ quê, có thể cả đời không một lần trở lại, nhưng gỡ quê ra khỏi lòng mình thì không tài nào gỡ nổi. Nó đã ngấm vào tận tủy xương từ khi mình còn chưa kịp lựa chọn. Người ta có thể đổi quốc tịch, đổi tên, đổi cả giọng nói. Nhưng cái nơi đã sinh ra mình thì không một thủ tục nào trên đời xóa đi được.
* * *
Cho nên mới có lời này, xin gửi tới những người đang đi xa: xin mình đừng nói xấu quê mình.
Không phải vì sợ ai nghe được. Không phải để giữ thể diện cho một ai. Mà vì cái mình đang đem ra khinh rẻ, nó là một phần máu thịt của chính mình, là cái gốc, cái rễ, cái nhau rốn đã vùi sâu trong lòng đất quê. Khinh nó là khinh chính mình, dù mình không nhận ra, hoặc cố tình không chịu nhận ra.
Mình cứ việc thấy cái xấu. Cứ việc đau, việc giận, việc buồn cho những điều chưa được. Cứ nói thẳng những chỗ còn dở, còn hèn, còn phải sửa – nếu lời nói ấy bật ra từ tấm lòng muốn cho quê khá hơn. Đó không phải là nói xấu. Đó là thương theo cách của người dám nhìn thẳng vào sự thật mà không bỏ chạy. Cái duy nhất xin mình đừng làm, chỉ là cái việc đem quê hương ra trước mặt người dưng mà bĩu môi khinh rẻ, để đổi lấy chút được lòng, chút hơn người, chút khỏi phải thương khỏi phải nhớ. Bởi cái giá của chút lợi cỏn con ấy, là cả một phần linh hồn mình.
Đã đi xa rồi thì lại càng phải biết giữ. Khi còn ở nhà, quê hương là chuyện đương nhiên, hít thở mỗi ngày mà chẳng cần nâng niu, như người ta chẳng mấy khi để ý đến không khí mình đang thở. Nhưng khi đã đi rồi, quê hương bỗng trở thành thứ duy nhất không ai cướp được của mình, dù nơi xứ lạ mình có sang giàu hay nghèo hèn đến đâu. Đó là cái nền vô hình dưới chân mình, là chỗ để mỗi khi chông chênh mình còn biết mình từ đâu tới. Đập vỡ cái nền ấy đi, thì dù có đứng trên lầu cao tới mấy, mình cũng chỉ là kẻ đứng chông chênh giữa khoảng không, không gốc, không rễ, không một nơi để gọi là về.
Chỉ mong sao, dù đi tới chân trời góc bể nào, mình vẫn giữ được một chỗ trong lòng dành cho quê, không phải cái chỗ để khoe khoang, cũng chẳng phải cái chỗ để xấu hổ, mà chỉ là một chỗ ấm áp, lặng lẽ, như người ta vẫn giữ một tấm hình cũ của mẹ ở ngăn trong cùng của chiếc ví. Để rồi một ngày kia, khi mình về được, hay khi mình đã không còn về được nữa, mình vẫn có thể nói với lòng mình mà không thấy thẹn: ta đã đi rất xa, đã sống một đời nơi đất khách, nhưng ta chưa từng một lần phản bội cái nơi đã làm nên ta.
Bởi quê hương, suy cho cùng, mỗi đời người cũng chỉ có được một. Mất nó rồi, thì có sang giàu đến mấy cũng vẫn cứ là một kẻ không nhà.
Nguyễn Anh Trung
